Tác giả: Song Nguyễn

CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN
Tác giả: Song Nguyễn
Chương 3
Đường vào trại cùi (Bán đảo Sống và Chết)
Như ba đã viết cho con, sau cuộc viếng mộ thi sĩ
Hàn Mặc Tử, hình ảnh thi sĩ luôn ám ảnh ba.
Nhưng có lẽ một phần vì mục đích cuộc hành trình
ba đang hướng tới, ba sẽ có dịp không phải chỉ
nhìn thấy một Hàn Mặc Tử,
mà sẽ thấy hàng trăm Hàn Mặc Tử. Do đó ba nôn
nao mong sớm thực hiện mục đích.
Cũng vì nghĩ đến đối tượng mà ba sắp gặp, nên
tối hôm trước cuộc hành trình vào trại cùi, ba
đã kiếm cớ thoái thác cuộc chiêu đãi của tỉnh.
Ba muốn để ba có đủ sức khoẻ, đồng thời ba cũng
cố tiết giảm ăn uống để chia sẻ với các bệnh
nhân.
Đúng
như ba dự đoán, cuộc chiêu đãi kéo dài khá muộn.
Khi phái đoàn trở về khách sạn, thì ba đã ngủ
được một giấc ngon rồi. Và từ lúc đó ba hướng về
các con, có lẽ giờ này Tiến em con mới ngủ…
Còn
con không biết đêm đêm con có được ngon giấc
không? Hay luôn bị bầy trẻ phá giấc ngủ của con?
Ba nghĩ đến các bệnh nhân, ba thấy họ thật là
những anh hùng quả cảm: hứng chịu lấy hình phạt
của Chúa để cho các phần tử khác được an lành.
Họ chẳng khác gì những chiến sĩ lao vào lửa đạn
để bảo vệ hậu phương. Do vậy, những việc làm
giúp đỡ những bệnh nhân nói chung, không còn
phải là việc bố thí ân huệ, nhưng là một việc
làm trả ơn,
nếu như không nhờ họ
thì mọi người đều phải chia phần vì đó là hậu
quả tội nguyên tổ…
Cũng vì hậu quả của cuộc chiêu đãi tối hôm
trước, mà mãi gần tám giờ phái đoàn mới khởi
hành vào trại cùi được. Đoàn xe vừa chở phái
đoàn trung ương và phái đoàn tỉnh, vừa chở đồ
cứu trợ, gần cả chục cái xe nối đuôi theo xe mở
đường có gắn cờ Hồng Thập Tự trực chỉ trại cùi.
Ra khỏi thị xã đoàn xe đi chậm hẳn lại vì len
vào con đường đá gồ ghề bọc theo sườn núi. Tội
nghiệp nhất là mấy cái xe chở đồ vừa nặng vừa
cồng kềnh, hết trồi lên thụt xuống, nghiêng bên
này ghé bên kia, làm mấy chú tài phải khó nhọc
mới nắm vững tay lái. Chưa hết, ngoài con đường
lên xuống ngoằn nghèo nguy hiểm, đoàn xe còn
phải leo qua những con cầu bắc qua suối, qua
lũng thật là vất vả. Đã vậy rồi từ đầu đường đến
gần trại, ba lần đoàn xe phải ngừng lại để ban
an ninh kiểm soát.
Qua nhiều trở ngại kéo dài cuộc diện kiến làm ba
thật
sốt ruột. Một phần ba càng thấy thương những
người bệnh nhân hơn: cuộc sống của họ hầu như
hoàn toàn ngăn cách với đời sống xã hội bên
ngoài: nào đi lại, nào kiểm soát, cố ý cắt đứt
họ với bên ngoài. Dĩ nhiên không phải bây giờ mà
ngay từ thời xưa Thánh Kinh cũng đã nhắc tới số
phận của họ.
Vượt qua trại kiểm soát số ba, ba nghe người
hướng dẫn cho biết,
lúc vào còn tương đối dễ, chứ lúc ra nhân viên
kiểm soát rất kỹ, sợ có bệnh nhân tiện cơ hội
trốn ra khỏi trại. Ba ngạc nhiên thấy một cảnh
vui mắt, hoàn toàn không gì chết chóc như ba
tưởng: một cái cổng chào lớn mới dựng trang trí
bằng những tàu lá dừa cắt xén công phu, từ nóc
cổng từng dây cờ xanh đỏ lộng gió tủa xuống bốn
phía trông thật hấp dẫn. Ba có cảm tưởng như đi
vào một nơi nào đó không phải là trại cùi.
Một cảnh tượng khác cũng làm giảm nỗi bi quan
của ba.
Khi
xe phải dừng lại lần chót để đợi mấy chiếc xe ca
chở đồ cứu trợ tới kịp để cùng vào trại, ba được
dịp nhìn bao quát khu vực trại. Ba ngạc nhiên vì
thấy trại gần như nằm hướng ra biển, sau màu
xanh của lá dừa ba có thể nhìn thấy những ngọn
sóng trắng đang xô nhau lao vào bờ, và tiếng
sóng vỗ nghe thật rõ. Ba quay sang hỏi người
hướng dẫn:
-
Trại nằm sát bờ biển hay sao vậy ông?
Người hướng dẫn mở to mắt nhìn ba, nét mặt đấy
hãnh diện, ông trả lời:
-
Không những nằm sát mà còn gần như bao bọc chung
quanh.
-
Ở thế thì an ủi cho bệnh nhân quá
nhỉ! Ba reo lên.
Ông mỉm cười, giọng ông nói đầy vẻ hân hoan:
-
Nếu như người ta bỏ hai chữ “trại cùi” đi, thì
đây là một chỗ nghỉ mát lý tưởng hơn hẳn cả lầu
ông Hoàng. Ngưng một lát ông ngập ngừng nói:
chỗ
này thì hơi hẻo lánh một chút. Nhưng rồi có lẽ
ông sợ ba đánh giá sai lòng bác ái của ông, cũng
như cơ quan ông phục vu,
ông
lại tiếp tục ca ngợi trại. Ông nói tiếp: đối với
anh chị em bệnh nhân đau khổ này, mình cũng phải
dành phần ưu
tiên cho họ.
Nếu
phải so sánh với những nơi nghỉ mát tôi được
biết: Đồ Sơn, Hà Tiên, Vũng Tàu không đâu bằng
chỗ này. Quanh năm khí hậu hầu như không thay
đổi rất thích hợp cho bệnh nhân.
Ba gật gù đón nhận phát biểu của ông, rồi ba hỏi
tiếp:
-
Thế nguồn gốc tìm kiếm được chỗ này ra sao ông?
-
Tôi không được nắm vững lắm. Lát nữa ngài có thể
hỏi thăm mấy dì phước ở đây.
Tôi
chỉ biết một cách tổng quát công cuộc khám phá
ra nơi này và lập thành trại cho bệnh nhân cùi
là do công mấy cố thừa sai.
-
Vâng! Ít nhất cũng có những tâm hồn quảng đại
dám xông pha khám phá và dám liều mạng để an ủi
những người xấu số chứ.
Nếu
không nhờ họ,
số phận những bệnh nhân sẽ ra sao? Chắc là không
ai lường được?
Nghe ba phát biểu,
người hướng dẫn càng hứng khởi hơn ông tiếp tục
ca ngợi trại cùi. Ông nói:
-
Không phải chỉ con người ưu
đãi bệnh nhân mà ngay cả thiên
nhiên cũng chiều chuộng bệnh nhân nữa. Ngoài
phong cảnh ít đâu có: giữa đất liền với đại
dương có một vách đá bọc quanh ngăn cách, nên dù
thuỷ
triều lớn, nước cũng không bao giờ vượt qua vách
đá. Cái quý nữa là trại gần như có biển bao bọc,
thế nhưng nước ngọt không bao giờ thiếu. Ngoài
ra nhờ ở vị trí đặc biệt, ban sáng trại nhận
được ánh sáng trước nhất và
ban
tối nhận được ánh sáng sau cùng.
Một lần nữa ba ngạc nhiên thốt lên:
-
Ồ quý quá! Đối với thứ bệnh này,
còn ánh sáng là còn hy vọng.
- Phải!
Phải! Còn ánh sáng là còn hy vọng, nên có nhiều
trường hợp bị đưa vào đây, bệnh nhân trốn đi sau
cùng lại phải trở về.
-
Cũng có những người trốn nữa sao?
-
Có chứ! Vì vậy mới cần kiểm soát gắt gao…
Người hướng dẫn như còn muốn nói nhiều về phần
đất trách nhiệm của mình, nhưng đàng sau mấy
chiếc xe vận tải đã trờ tới và đang ấn kèn báo.
Vị trưởng đoàn cho lệnh đoàn xe từ từ vào trại.
Đoàn xe đồng loạt rồ máy, tiếng máy nổ làm át
tiếng nói. Bỗng nhiên ba thấy hồi hộp như sắp
sửa phải đối diện với một cái gì ghê gớm: “Người
chết sinh hoạt”.
Nhưng
điều
ba chờ đợi vẫn chưa ló rạng, trái lại hai bên
đường vào trại, hàng dừa trồng cách quãng đều
nhau đang thi nhau vẫy tay chào phái đoàn, tiếng
lá va chạm vào nhau lạo xạo như tiếng vỗ tay,
rồi cả đến quầy dừa nặng trĩu cũng cố đu đưa
theo sức gió biển để như cố nói lên tình cảm của
mình. Ngay cả đến những cụm mây trời xa lạ đang
trôi nổi trên trời, giờ phút này cũng rà xuống
gần những ngọn dừa đã bị vướng vít vào, tạo bóng
mát cho cuộc hội ngộ có một không hai này.
Xe dẫn đầu ngừng lại, đoàn xe theo sau kè sát
vào lề đường, phái đoàn xuống đi bộ để nhận cuộc
chào mừng của nhân dân trong trại. Ba vội lôi
máy ảnh để ghi những nét đầu tiên của trại.
Bước xuống xe nét đầu tiên ba ghi nhận là khung
cảnh dựng
cổng
chào: một cổng chào to chắc chắn, mỹ thuật.
Ngang
cổng căng tấm băng rôn trắng với hàng chữ đỏ:
Nhiệt
liệt chào mừng phái đoàn Caritas.
Lui sâu vào bên trong lối chừng hai chục thước
là cổng trại. Cổng cũng được sơn quét lại như
mới,
trên nóc cổng cờ xí la liệt. Nhìn chung từ lúc
ba thấy trại cho đến giờ phút này,
ba chưa thấy gì là tang tóc bi thảm, trái lại
cảnh trí cũng như trang hoàng đều lộ một vẻ vui
tươi phấn khởi. Ngay cả đoàn người đông đảo đứng
trong cổng chờ phái đoàn cũng không lộ vẻ gì
bệnh tật cả.
Hai hàng dài có tới năm sáu chục trẻ, ăn mặc gọn
gàng, đồng phục tay cầm cờ vẫy qua vẫy lại, mắt
hau háu nhìn phái đoàn. Rồi khi phái đoàn bước
vào cổng, một tiếng
pháo cối chát chúa nổ mào đầu, hàng trăm tiếng
pháo nhỏ nối đuôi, tiếng trống, tiếng chiêng,
tiếng người hô, tiếng vỗ tay… ồn ào vui tươi
chẳng khác gì những cuộc vui liên hoan ba đã có
dịp thấy,
khiến ba hồ nghi sự hiểu biết của ba về bệnh
cùi.
Nhưng khi bước lại gần ba đã không lầm, tấm ảnh
đầu tiên ba ghi lại trong cuộc tiếp đón này là
hình anh nhiếp ảnh của trại. Anh ăn mặc sạch sẽ,
bảnh bao như một thanh niên bình thường, đeo máy
ảnh trước ngực y hệt phóng viên thứ thiệt, nhưng
khi anh đứng lên ghế lấy ảnh phái đoàn, ba mới
thấy anh chỉ có một tay, còn tay kia chỉ còn từ
cùi chỏ đã được băng kín, và anh đã cẩn thận
giấu kín trong tay áo. Còn một bên tai anh cũng
đã loang lỗ vệt sẩn đỏ. Ngoài người nhiếp ảnh
này, ba còn thấy có tới bốn năm người khác cũng
đang thi nhau lấy ảnh,
và người nào cũng tương tự như người “nhiếp ảnh
gia” đầu tiên ba thấy. Có người còn tệ hơn nữa,
nhưng có lẽ vì sợ gây cảm giác sợ hãi cho phái
đoàn, nên các vết thương đã được che giấu kỹ. Có
người đã cụt hẳn một chân cũng cố yêu cầu được
đưa ra gần cổng để ngồi một vị trí lấy ảnh cuộc
thăm viếng của phái đoàn.
Qua mấy nhiếp ảnh gia, ba đâm hồ nghi mọi người
ba gặp, nên gặp ai ba cũng cố quan sát để khám
phá thương tích của họ. Sau mấy nhiếp ảnh gia,
ba ghi tấm ảnh hai anh đánh trống, đánh chiêng
với nét mặt vui tươi phấn khởi,
và nụ cười rạng rỡ không ai tưởng được rằng
trùng cùi đang gặm nhấm đôi bàn chân của họ. Và
một anh cái mũi
sưng phồng và đỏ hồng báo hiệu không lâu nó sẽ
bị ăn mòn. Nhìn đến các em nhỏ cầm cờ đứng dàn
chào và vẫy mừng phái đoàn,
thoạt nhìn các em xinh xắn, đẹp như thiên thần,
không
mấy em là không có dấu chứng của trùng cùi.
Ngay cả em
được chọn đại diện cho trại dâng hoa cho vị
trưởng đoàn, thế mà đôi tai của em cũng đã đỏ
hồng, triệu chứng của bệnh cùi sắp sửa xuất
hiện.
Sau nghi lễ đón chào, phái đoàn được đưa thẳng
vào phòng khách lớn để tham dự buổi chiêu đãi
dành cho khách quý,
và để nghe ban điều hành trại báo cáo về mọi
sinh hoạt của trại.
Quãng đường từ cổng vào đến phòng khách quá
ngắn, chưa đủ để ba thấy được nhiều; nhưng có lẽ
cũng đủ để ba thấy được: trừ mấy Dì phước và mấy
nhân viên xã hội phục vụ tại đây, còn đều là
bệnh nhân hoặc là bệnh tái phát hoặc đang chờ
bệnh lộ diện. Nhưng có một điều làm ba ngạc
nhiên đến khó hiểu là mọi người đều vui tươi
không có gì là sầu khổ!!!
Bước vào phòng khách,
ba lại tìm thấy một sự ngạc nhiên khác: phòng
trang trí rất gọn gàng sạch sẽ; hơn nữa, còn có
vẻ nghệ thuật. Có thể là phòng được trang trí để
đón phái đoàn, nhưng còn những cái trông không
có gì là mới bố trí? Ba hỏi một Dì phước gần ba.
-
Thưa Dì, phòng này mới xếp đặt lại hay sao?
Dì nhìn ba mỉm cười. Dì có nụ cười rất duyên. Ba
thầm nghĩ giữa cảnh đau thương này Chúa
cũng
gửi các thiên thần của Chúa đến an ủi bệnh nhân.
Với con người xinh như mộng và nụ cười tươi mát
này, hẳn làm cho bệnh nhân đỡ héo hắt phần nào.
Dì nhỏ nhẹ trả lời ba. Dì nói:
-
Cũng có sửa soạn đôi chút, nhưng cũng không khác
ngày thường bao nhiêu.
Ngưng một lát, có lẽ Dì đoán được cái thắc mắc
của ba, Dì nói tiếp:
-
Rồi ra Ngài sẽ thấy, chủ trương của chúng tôi ở
đây là cố gắng hết sức tạo cho bệnh nhân cảnh
trí đầm ấm, vui tươi để đánh tan cái cảm giác
chết chóc, buồn thảm…
Không kìm được sự cảm phục tinh thần của những
thiên thần bình an, ba thốt lên:
-
Ô! Quý Dì chu đáo quá!
Thấy ba phấn khởi cảm phục, Dì hãnh diện, mặt Dì
tươi rói, đôi má ửng hồng, cặp môi đỏ mọng. Dì lại
mỉm cười nói lảng đi.
-
Đó là nhiệm vụ của chúng tôi!
Nói dứt câu, Dì cáo lỗi để điều động cuộc thuyết
trình. Vì đây là trọng tâm của cuộc viếng thăm
-
trại có được tăng thêm viện trợ và được chấp
thuận một số dự án đề ra, một phần cũng do số
liệu cụ thể trong cuộc báo cáo này.
Cũng vì tính cách quan trọng của bản báo cáo,
nên ban điều hành đã trình bày thật đầy đủ, rõ
ràng con số các bệnh nhân, từng loại tuổi, phái
tính, thời gian sống trong trại, những sinh hoạt
trong trại… Ngoài bản báo cáo bằng giấy tờ, từng
mục còn những
hoạ đồ biểu diễn cụ thể.
Tiếp đến là
phần báo cáo về nhân số
và báo cáo
sơ qua về bệnh lý để phái đoàn dễ nắm những nhu
cầu của bệnh nhân. Phần báo cáo về những nhu cầu
cũng được chia ra: những nhu cầu tối khẩn về ăn
uống, thuốc men, sinh hoạt, đến nhu cầu bồi
dưỡng, phòng ngừa, nâng đỡ tinh thần…
Trong khi đó báo cáo viên trình bày tiếp: phần
nhà nước trợ cấp, phần quỹ từ thiện giúp tính
trên đầu người quá yếu, trong lúc mỗi đầu người
một ngày phải cần tối thiểu gấp hai lần về thực
phẩm, còn thuốc men tối thiểu cần gấp bốn, gấp
năm khoản trợ cấp. Nghe phần này ba thấy choáng
váng như ù tai, ba không thể ngờ được ngay một
điều ăn uống mà thôi.
Ai
có thể tưởng được rằng người bệnh nhân lại ăn
gấp hai người đồng tuổi khỏe mạnh, chưa kể đến
thuốc men tốn kém dễ sợ?
Không hiểu đối với người khác thì sao, ba đoán
có lẽ họ cũng một tâm trạng như ba, phải sửng
sốt trước sự chịu đựng của những người làm bác
ái ở đây. Riêng ba, ba đã có đôi chút kinh
nghiệm: ba nhớ hồi má con đau nặng, ba mới chỉ
chạy thuốc và chăm sóc cho một mình má con, ba
đã thấy vất vả và chật vật lắm rồi; trong khi
đó, còn nào ngoại con, con và biết bao nhiêu
người phụ vào nữa. Thế mà ở đây một Dì phước lo
cho hàng chục người bệnh,
lại là thứ bệnh nguy hiểm dễ
nhiễm lây...
Giữa lúc ba đang mải miết theo đuổi những ý nghĩ
riêng tư của ba, thì ban điều hành đề nghị nghỉ
giải lao trước khi vào phần thảo luận góp ý. May
mắn ba lại gặp được Dì phước hồi nãy, Dì đưa
nước ngọt
và bánh
lại mời ba
rồi
ngồi mạn đàm với ba. Lợi dụng cơ hội hiếm có ba
vào đề ngay. Ba hỏi:
-
Dì có thể cho tôi biết do động lực nào Dì có mặt
ở đây?
Có lẽ bị ba phỏng vấn bất ngờ, Dì hơi lúng túng,
mặt Dì đỏ tươi, trông Dì giống y như “vị Sứ Giả
Hoà
Bình” trong bức tranh ba mới xem ở thành phố,
nên ba nói luôn:
-
Xin lỗi Dì! Tôi trông Dì quen quá! Hình như tôi
đã gặp Dì?
Lấy lại được bình tĩnh Dì cười duyên trả lời ba.
Dì nói:
-
Ngài thấy tôi ở đâu?
Giờ đến lần ba ngập ngừng. Ba phải lựa câu trả
lời cho xuôi để người đối diện không mất cảm
tình. Ba nói:
-
Tôi được gặp Dì trong tác phẩm “vị Sứ Giả
Hoà
Bình”.
Dì tròn mắt nhìn ba rồi cười
xoà.
Dì nói:
-
Thưa Ngài đâu có chuyện đó chúng tôi ở nơi khỉ
ho cò gáy này,
ít
khi tiếp xúc với xã hội, nên chắc là không có
chuyện đó đâu!
Ba
gật đầu
cảm phục tinh thần xả thân của Dì, ba nhìn Dì
khích lệ:
-
Dì ở nơi hẻo lánh này, có thể là ít người biết
Dì, nhưng chắc chắn là Chúa biết
rõ, và đối với các bệnh nhân,
quý Dì quả là những “vị Sứ Giả
Hoà
Bình” của Chúa, hay nói khác đi là những người
mẹ.
-
Dạ! Ngài quá khen, nhưng phục vụ đó là chủ
trương của Dòng tôi. Dì trả lời ba.
Qua giọng nói và nét mặt của Dì, ba càng thấy
cảm phục Dì cũng như mục đích của Dòng Dì. Ba
giải thích câu nói lúc nãy của ba.
-
Hồi nãy tôi có nói là tôi thấy Dì quen quen,
thực ra không phải là bản thân Dì, nhưng là một
Dì nào đó thuộc Dòng Dì. Vì từ cách trang phục,
nét mặt đến việc làm: trong bức tranh đó một Dì
phước đang cúi xuống băng bó cho một người đàn
ông đã bị trùng cùi ăn cụt hết bàn tay.
Còn bệnh nhân mắt không nhìn đến thương
tích của mình, nhưng hướng về Dì như để tìm một
sự an ủi cuối cùng. Đàng sau bệnh nhân đang được
băng bó còn hàng dài những bóng mờ các bệnh nhân
đang đợi đến lần được bàn tay,
và nhất là tấm lòng từ bi nhân ái của “vị Sứ Giả
Hoà
Bình”.
Ba nói dứt lời, Dì phước nhún vai mỉm cười nói:
-
Thế mà Ngài làm tôi giật mình. Ngưng một lát Dì
nói tiếp: ảnh với thật khác nhau nhiều Ngài ạ!
Ba căng mắt nhìn Dì,
rồi ba gật gù nói với Dì:
-
Dạ! Đúng! Tôi nhất trí với Dì. Rồi ba giải thích
phát biểu của ba: bức tranh cho dù tài nghệ của
họa sĩ có tài ba, gây được rung động cho người
xem ý tác giả muốn diễn tả, nhưng làm thế nào
bằng khi được chứng kiến cảnh thật trước mắt nó
sống động và truyền cảm hơn nhiều.
Vừa nói ba vừa quan sát Dì, quả thật, ba thấy Dì
rất chăm chú nghe ba nói. Lợi dụng cơ hội tốt ba
nhấn mạnh:
-
Phải!
Ở
đây mà người ta được thấy bệnh nhân và cuộc sống
các Dì ở trại, hẳn người ta sẽ hết chỗ phục.
Lần này Dì phước cảm động thật,
mắt Dì ướt ướt, nhưng Dì đã mau chóng chống lại
cơn cám dỗ, Dì đẩy chai nước ngọt lại gần ba. Dì
run run nói: Ngài quá đề cao chúng tôi. Rồi Dì
cố ý lái câu chuyện sang vấn đề khác. Dì
nói:
-
Mời Ngài dùng nước giải khát.
Nhận phần nước của ba, nhưng ba thắc mắc vì thấy
không có nước của Dì, ba hỏi:
-
Còn nước của Dì đâu?
Dì mỉm cười không trả lời câu hỏi thẳng của ba.
Dì nói:
-
Dạ! Mời ngài dùng, chúng tôi mới uống.
Câu trả lời của Dì khiến ba thầm nghĩ có thể Dì
mới uống thật, nhưng thứ nước Dì uống không phải
là thứ nước ba uống, có thể đây là loại
nước xa xỉ và chỉ dành cho loại khách sợ nhiễm
trùng cùi.
Và rồi hình như Dì sợ ba thắc mắc thêm, Dì mượn
cớ mời mọc các khách khác.
Dì
đứng dậy đi bàn khác. Dì đi rồi càng làm ba suy
nghĩ về Dì cũng như các Dì đang phục vụ trong
trại cùi này. Ba nghĩ với
một số bệnh nhân, chắc là loại bệnh nhân đỡ nhất
tham dự cuộc đón tiếp phái đoàn, thế mà hầu như
không một ai toàn vẹn.
Hẳn
là còn rất nhiều bệnh nhân nặng khác không thể
đi lại được,
và
theo bản báo cáo vừa rồi, họ chiếm đa số. Như
vậy, công việc của quý Dì ở đây chắc vất vả và
nguy hiểm… Thật chỉ những người có lý tưởng và
đức tin mới dám đảm nhận công tác này. Đã vậy,
các Dì lại phải kiềm chế trong công việc ăn uống
để sống theo gương “thần tượng” của mình.
Càng nghĩ ba càng thấy cảm phục các thiên thần
của Chúa, các “vị Sứ Giả
Hoà
Bình” của Chúa đã đổi sự sống mình lấy hạnh phúc
cho người khác. Và chính lúc này ba nghĩ đến
con, ba thấy an ủi và hãnh diện.
Mặc
dù đối với ba bước đầu có phần miễn cưỡng,
giờ đây
ba cũng đóng góp vào công cuộc tạo hạnh phúc cho
người khác một người con. Và ba hy vọng sẽ
thuyết phục Tiến em con cũng theo gương con để
đóng góp vào công cuộc bác ái. Nhìn các Dì ở
giữa khung cảnh này, ba có cảm tưởng như giữa
trời tối người đi biển được nhìn thấy sao mai.
Ba nhớ tới câu Thánh Thi đã đọc:
Kìa sao mai xuất đầu lộ diện
Báo tin vui xuất hiện vầng hồng
Đêm tàn đỏ ửng trời đông
Bình minh soi chiếu cõi lòng nhân gian.